Mắt lác ở trẻ sơ sinh

5/5 - (1 bình chọn)

Mắt lác ở trẻ em như thế nào ? 

Mắt lác ở trẻ em là do nhãn cầu của trẻ ngắn, có hiện tượng viễn thị sinh lý. Sau khi trẻ được 2 tuổi, nhu cầu nhìn những vật ở gần tăng dần, mắt trẻ có khả năng điều chỉnh mạnh, sự co bóp của các cơ ngoại nhãn rất tốt, đồng thời kèm theo đó là đảo mắt vào trong quá nhiều, rất có thể gây ra hiện tượng lác. Ngoài ra còn có thể do yếu tố bẩm sinh, chấn thương bẩm sinh, chức năng thị giác không hoàn hảo.. 

Lác mắt xuất hiện làm cản trở sự phát triển chức năng một mắt hai mắt, điều này thúc đẩy sự phát triển của bệnh lác và làm cho tình trạng lác mắt ngày càng nghiêm trọng hơn. Các cơ quan thị giác và chức năng thị giác của trẻ trước 5 tuổi chưa phát triển hoàn thiện và đây là giai đoạn có tỷ lệ mắc bệnh lác cao. Ở Việt Nam có khoảng 4% trẻ em bị lác

Những yếu tố gây mắt lác ở trẻ 

Tại sao trẻ em dễ bị lác? Bởi vì đứa bé chỉ có kết hợp tổng thể 2 tháng sau khi sinh, việc hình thành chức năng tổng hợp chính xác sẽ tiếp tục cho đến sau 5 tuổi, và sự hình thành lập thể là muộn, và chỉ 6 đến 7 tuổi mới có thể tiếp cận với người lớn. Vì vậy, trước 5 tuổi, giai đoạn chức năng nhìn hai mắt chưa hoàn thiện là giai đoạn tỷ lệ mắc bệnh lác ở trẻ em rất cao. Nếu điều này xảy ra, điều quan trọng là trẻ phải đi khám bác sĩ ngay để loại trừ các bệnh lý khác.Yếu tố gây lác ở trẻ thường do bẩm sinh và chấn thương khi sinh

Các nguyên nhân gây ra lác ở trẻ em bao gồm: 

  • Bất thường bẩm sinh trong sự phát triển của các cơ ngoại nhãn
  • Liệt bẩm sinh của các dây thần kinh III, IV, VI kích thích vận động của các cơ ngoại nhãn
  • Tổn thương các cơ ngoại nhãn và dây thần kinh của các cơ ngoại nhãn do tai biến sản khoa hoặc trong quá trình mang thai mẹ dùng thuốc gây tác dụng phụ
  • Chức năng thị giác không được phát triển đầy đủ: chủ yếu là mắc tật khúc xạ bẩm sinh 
  • Trung tâm thị giác của não bộ phát triển chưa hoàn thiện, chưa phối hợp và điều khiển được sự co, giãn của các cơ ngoại nhãn nên chức năng nhìn một mắt của trẻ không hoạt động tốt và không ổn định.
  • Do các yếu tố bên ngoài nhất định :  khối u (u nguyên bào võng mạc), chấn thương đầu, các bệnh lý thần kinh ( liệt dây thần kinh số III, IV, VI). Nhiễm virus (viêm não, viêm màng não), …

Hình thái lác thường gặp ở trẻ em 

Lác trong

  • Thường gặp ở trẻ nhỏ. Xuất hiện từ lúc sinh ra  hoặc  từ 2 tuổi đến 4 tuổi và thường kèm theo lác trên. Lác trong cảm giác xảy ra khi mất thị lực trầm trọng (do các tình trạng như đục thủy tinh thể, bất thường thần kinh thị giác, hoặc khối u) ngăn cản nỗ lực của não để duy trì sự sắp xếp của mắt. Lác trong có thể bị liên quan đến liệt dây thần kinh sọ não số  VI. Lác trong cũng có thể là một thành phần của một hội chứng : 
  • Hội chứng Duane (không có bẩm sinh liệt dây số VI, với sự bất thường phân bố thần kinh của cơ thẳng bên ngoài nhãn cầu do thần kinh số III (thần kinh vận nhãn) 
  • Hội chứng Möbius: lác trong do liệt các dây thần kinh VI, VII. Lác trong với độ lác lớn, hai mắt không liếc được ra ngoài, kèm theo teo đầu lưỡi (liệt dây thần kinh XII).

Lác ngoài: 

  • Thường là không liên tục ( lác ngoài luân phiên) và không có nguyên nhân. Gặp ít hơn là lác ngoài liên tục và liên quan đến liệt dây thần kinh số III

Lác đứng trên:  

  • Có thể liên quan đến liệt dây thần kinh số IV ( dây ròng rọc) xảy ra bẩm sinh hoặc sau chấn thương sọ não 

Lác dưới :

  • Do hạn chế cơ học của chuyển động hoàn toàn nhãn cầu hơn là sự tắc nghẽn thần kinh với chuyển động của mắt. Như gãy, vỡ sàn hoặc trần ổ mắt ; bệnh tuyến giáp. Liệt dây thần kinh số III và hội chứng Brown (hạn chế và căng cơ chéo trên bẩm sinh hoặc mắc phải)

Dấu hiệu về mắt của trẻ mà bạn cần chú ý  

Hầu hết trẻ em bị lác không phàn nàn về các vấn đề về mắt hoặc nhận thấy những thay đổi trong tầm nhìn của chúng.Nếu trẻ có bất kỳ tình trạng nào sau đây, cha mẹ nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ gia đình, bác sĩ đo thị lực cộng đồng hoặc bác sĩ nhãn khoa càng sớm càng tốt để được khám và chẩn đoán chi tiết:

  • Mắt của đứa trẻ trông bất thường:  tức là một mắt đang nhìn về một phía trong khi mắt kia không nhìn theo.
  • Xem TV hoặc sách bằng một mắt hoặc che một mắt- thường do tật song thị gây ra , có một số trẻ sẽ phàn nàn về vấn đề này, một số thì không 
  • Nhìn nghiêng
  • Trẻ thường nheo mắt, nhìn chéo, nháy mắt, lau mắt
  • Trẻ phàn nàn về thị lực mờ
  • Thường rơi nước mắt
  • Nghi ngờ các vấn đề về mắt khác

Làm thế nào chẩn đoán mắt lác ở trẻ em?

Khám toàn thân: loại trừ các bệnh viêm, nhiễm trùng, chấn thương do va đập ,…

Khám thực thể và thần kinh :

  • Hỏi tiền sử gia đình, khi nào thì thấy sự sai lệch của mắt, nó xuất hiện như nào ? 
  • Khám lâm sàng : đánh giá mức độ sắc nét của thị lực, phản ứng đồng tử, mức độ vận động cơ ngoài nhãn cầu. 
  • Khám bằng đèn để phát hiện các dấu hiệu đục thủy tinh thể, và soi đáy mắt để phát hiện các dấu hiệu của u nguyên bào võng mạc
  • Xem phản xạ ánh sáng giác mạc: Cho trẻ nhìn vào ánh sáng quan sát phản xạ ánh sáng từ đồng tử; thông thường, phản xạ xuất hiện ở cùng vị trí trên mỗi đồng tử. Ánh sáng phản xạ cho một mắt lác ngoài là về phía mũi so với vào trung tâm đồng tử, trong khi phản xạ cho một mắt lác trong là về phía thái dương so với trung tâm đồng tử. Kiểm tra thị lực bằng máy để xác định trẻ em có nguy cơ.
  • Khám thần kinh đặc biệt là các dây thần kinh vận nhãn III, IV, VI: Chẩn đoán hình ảnh về thần kinh có thể là cần thiết để xác định nguyên nhân gây ra liệt các dây thần kinh sọ. Đặc biệt là CT hoặc MRI 
  • Chẩn đoán hình thái lác:  Test che mắt: yêu cầu phải chú ý vào một vật thể. Một mắt sau đó được che lại trong khi mắt kia được quan sát sự di chuyển. Không có chuyển động nào được phát hiện nếu mắt được sắp xếp hợp lý , nhưng mắt lác xuất hiện nếu mắt không che di chuyển để định hình khi mắt còn lại, mắt đã cố định trên vật thể được che lại. Thử nghiệm này sau đó được lặp lại ở mắt kia. 
  • Đo độ lác : Độ lệch có thể được định lượng bằng cách sử dụng lăng kính đặt sao cho mắt lệch không cần phải di chuyển để cố định. Lực của lăng trụ được sử dụng để định lượng độ lệch và cung cấp một phép đo mức độ sai lệch của các trục thị giác. Đơn vị đo lường được sử dụng bởi các nhà nhãn khoa là đi ốp lăng trụ. Một diopter lăng trụ là độ lệch của các trục thị giác của 1 cm tại 1m

Mắt lác ở trẻ cần phân biệt với chứng gì ?

Cần phân biệt với chứng “ Lác giả “.  Mắt của trẻ sơ sinh thường có vẻ nhìn như bị lác, mặc dù thực ra không phải như vậy. Tình trạng này được gọi là “lác giả”. Trẻ nhỏ thường có mũi phẳng, rộng, và có một nếp da ở trong mi mắt có thể làm cho hai mắt có vẻ như bị lác. Sự xuất hiện của tình trạng giả lác có thể cải thiện khi đứa trẻ lớn lên. Trẻ sẽ không tiến triển thành lác thật sự. Cần đến bác sĩ chuyên khoa mắt có thể phân biệt giữa lác thật sự và lác giả

Lác ở trẻ nhỏ điều trị được không? Điều trị như thế nào ? 

Điều trị cụ thể cho bệnh lác mắt sẽ được xác định bởi bác sĩ của con bạn dựa trên:

  • Tuổi, sức khỏe tổng thể và tiền sử bệnh của con bạn
  • Mức độ của bệnh
  • Nguyên nhân của bệnh
  • Khả năng chịu đựng của con bạn đối với các loại thuốc, thủ thuật hoặc liệu pháp cụ thể

Điều trị cụ thể

  • Chỉnh kính đối với tật khúc xạ
  • Bịt mắt hoặc nhỏ atropin đối với trường hợp mắt có nhược thị 
  • Phẫu thuật cơ mắt : khi chỉnh kính, bịt mắt nhỏ atropin thất bại thì phẫu thuật là yếu tố cần thiết

Phòng tránh mắt lác cho trẻ

Cho trẻ đến chuyên khoa mắt để kiểm tra mắt tránh dẫn đến tình trạng mắt không nhìn đúng hướng đặc biệt trẻ trên 6 tháng,  nhược thị hoặc giảm thị lực ở mắt đang phát triển

Sau khi phẫu thuật thành công, việc tái khám định kỳ là cần thiết để phát hiện các vấn đề về mắt kèm theo. Mắt lệch theo chiều dọc, đặc biệt là khi nhìn sang một bên, mắt lé tái phát và giảm  thị lực  có thể xảy ra vài tháng, vài năm hoặc nhiều thập kỷ sau khi phẫu thuật cơ mắt thành công

Chia sẻ bài viết lên:

Viết một bình luận