Bệnh mắt lác (lé)

3.5/5 - (2 bình chọn)

Mắt lác (lé) không những gây mất thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh (tự ty, mặc cảm trong giao tiếp) và thị lực (nhược thị, song thị, mù lòa…). Vậy nguyên nhân gây ra lác mắt là gì? Triệu chứng và điều trị như thế nào? Hãy dành 3 phút để hiểu hết về bệnh mắt lác (lé) nhé!

Hãy tham gia bình luận nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào cần tư vấn. Và nhớ like, chia sẻ nếu bạn thấy bài viết hữu ích!

Mắt lác (lé) là gì?

Lác mắt dùng để chỉ việc cả hai mắt không có khả năng nhìn vào mục tiêu cùng một lúc. Một mắt có thể nhìn thẳng về phía trước, trong khi mắt kia nhìn vào trong, ra ngoài, lên trên hoặc xuống dưới.

Sáu cơ gắn vào mỗi mắt để kiểm soát cách nó di chuyển. Các cơ nhận tín hiệu từ não chỉ đạo chuyển động của chúng. Bình thường, hai mắt làm việc cùng nhau để cả hai cùng hướng về một nơi. Khi các vấn đề về kiểm soát chuyển động của mắt không bình thường, mắt có thể quay vào trong, ra ngoài, lên hoặc xuống. Đảo mắt có thể xảy ra mọi lúc hoặc chỉ xuất hiện khi người bệnh mệt mỏi, ốm yếu, đọc sách nhiều hoặc làm việc gần. Trong một số trường hợp, mắt giống nhau có thể quay mỗi lần. Trong các trường hợp khác, mắt có thể thay đổi chuyển hướng.

bieu hien mat lac
Mắt lác (lé) – là cả hai mắt không có khả năng nhìn vào mục tiêu cùng một lúc

Phân loại mắt lác 

Lác (lé) ngang: 

Gồm lác trong và lác ngoài

  • Lác trong: Mắt nhìn trực tiếp vào vật thể và mắt kia quay vào trong về phía mũi.
  • Lác ngoài: Mắt nhìn trực tiếp vào vật thể và mắt còn lại quay ra phía thái dương

Lác đứng: 

Mắt nhìn thẳng vào vật trong khi mắt kia quay thẳng đứng xuống dưới hoặc lên trên 

Lác xoáy: 

  • Khi nhìn thẳng trước mặt, 1 trong 2 mắt ở vị trí chính giữa còn mắt kia lệch xoáy vào trong mũi gọi là lé xoáy trong, xoáy ra ngoài gọi là lé xoáy ngoài

Một số hình thái lác đặc biệt

Hội chứng Duane: 

Khi cố gắng nhìn vào trong – Nhãn cầu thụt vào và hẹp khe mi. Hoặc khi cố gắng nhìn ra ngoài – khe mi mở ra và nhãn cầu nhìn ở vị trí bình thường 

  • Thể I ( hạn chế liếc vào trong) 
  • vị trí nguyên phát: Nhìn thẳng hoặc lác nhẹ vào trong 
  • Liếc ra ngoài: Bình thường hoặc hơi hạn chế
  • Liếc vào trong: Hạn chế hoặc không có 
  • Thể II ( Hạn chế liếc ra ngoài) 
  • Vị trí nguyên phát: Nhìn thẳng hoặc lác nhẹ ra ngoài 
  • Liếc vào trong : bình thường hoặc hơi hạn chế
  • Liếc ra ngoài : hạn chế
  • Thể III ( Mắt trái) 
  • Vị trí nguyên phát: Nhìn thẳng hoặc lác nhẹ vào trong
  • Liếc vào trong: Hạn chế
  • Liếc ra ngoài: Hạn chế

Hội chứng Brown: 

mắt hạn chế đưa vào và lên trên, vận nhãn các hướng khác bình thường, mắt không lác hoặc lác xuống dưới. Hội chứng này có thể bẩm sinh hoặc mắc phải, do tổn hại cơ chéo lớn hoặc ròng rọc cơ.

Hội chứng Mobius: 

lác trong do liệt các dây thần kinh VI, VII. Lác trong với độ lác lớn, hai mắt không liếc được ra ngoài, kèm theo teo đầu lưỡi (liệt dây thần kinh XII).

Liệt hai cơ đưa mắt lên: 

mắt bị liệt thường lác dưới và không liếc được theo các hướng lên trên.

Liệt cơ chéo lớn bẩm sinh: 

mắt liệt lác lên trên, kèm theo tư thế lệch đầu về bên mắt lành và cằm hạ xuống.

Hội chứng chữ cái (A hoặc V): 

trong hội chứng chữ A, ở mắt lác trong thì độ lác tăng khi mắt nhìn lên và giảm khi mắt nhìn xuống, ở mắt lác ngoài thì độ lác tăng khi mắt nhìn xuống và giảm khi mắt nhìn lên. Hội chứng chữ V ngược lại với hội chứng chữ A

Phân loại mắt lác thường dựa trên triệu chứng và nguyên nhân gây lác
Phân loại mắt lác thường dựa trên triệu chứng và nguyên nhân gây lác

Nguyên nhân & yếu tố nguy cơ gây mắt lác

Mắt lác có thể do các vấn đề với cơ mắt, các dây thần kinh truyền thông tin đến các cơ hoặc trung tâm điều khiển trong não chỉ đạo chuyển động của mắt. Nó cũng có thể phát triển do các tình trạng sức khỏe chung khác hoặc chấn thương mắt.

Các yếu tố nguy cơ phát triển bệnh lác bao gồm:

Lịch sử gia đình. Những người có cha mẹ hoặc anh chị em bị lác có nhiều khả năng mắc bệnh này hơn.
Tật khúc xạ. Những người bị viễn thị không được điều chỉnh (hyperopia) có thể bị lác do mắt phải tập trung nhiều hơn để giữ cho các vật rõ ràng.
Lịch sử bệnh lý. Những người mắc các bệnh như Hội chứng Down và bại não hoặc từng bị đột quỵ hoặc chấn thương đầu có nguy cơ cao bị lác.

  • Bệnh lý thần kinh sọ não (liệt dây III, dây IV, Dây VI).
  • Bệnh lý nơi giao tiếp thần kinh cơ: bệnh nhược cơ.
  • Bệnh lý tại cơ: xơ hóa mô cơ trong bệnh nhãn giáp, viêm cơ
  • Bệnh lý hốc mắt : u bướu, gãy thành hốc mắt gây kẹt cơ…
  • Bệnh tiểu đường
  • Bệnh tuyến giáp (bệnh Graves)
  • Hội chứng Noonan
  • Một số bệnh nhiễm trùng do vi rút, chẳng hạn như bệnh sởi (hiếm gặp).

Mắt lác có thể xảy ra sau khi phẫu thuật trên hoặc xung quanh mắt, chẳng hạn như phẫu thuật đục thủy tinh thể hoặc phẫu thuật võng mạc. Nguyên nhân là do cơ mắt bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật. Lác mắt đôi khi cũng có thể là triệu chứng của một loại ung thư mắt hiếm gặp ở trẻ em được gọi là u nguyên bào võng mạc.

Triệu chứng mắt lác

Các triệu chứng của bệnh lác mắt bao gồm:

  • Mắt nhìn lệch.
  • Đôi mắt không di chuyển cùng nhau.
  • Thường xuyên chớp mắt hoặc nheo mắt, đặc biệt là dưới ánh sáng mặt trời.
  • Nghiêng đầu nhìn mọi vật.
  • Nhận thức độ sâu bị lỗi
  • Nhìn đôi (song thị)
  • Mỏi mắt hoặc nhức đầu

Khám và chẩn đoán mắt lác 

Khám lác là một quá trình không quá phức tạp nhưng cần kỹ thuật và các thiết bị, phương tiện hiện đại để đưa ra chẩn đoán chính xác cùng với các biến chứng lác gây nên , nhất là đối với trẻ em thường phải thăm khám nhiều lần trước khi điều trị. 

  • Hỏi bệnh sử: Hỏi chung tình trạng sử dụng thuốc men, tiền sử gia đình và các yếu tố môi trường khác có thể góp phần gây ra các triệu chứng
  • Khám mắt:  Quan sát, khám toàn thân để loại trừ bất kỳ bệnh lý nào có thể góp phần gây ra bệnh lác. Xác định xem mắt phản ứng như thế nào trong điều kiện bình thường.

Chẩn đoán hình thái lác, độ lác

 a) Chẩn đoán hình thái lác

 – Bằng nghiệm pháp Cover – Uncover – test: Che chậm từng mắt, che nhanh luân phiên hai mắt ta có thể phát hiện được lác ẩn, vi lác, lác luân phiên và lác chéo.

 – Mục đích của thử nghiệm che mắt: Là để phát hiện động tác trả của nhãn cầu xuất hiện ở mắt che và mắt không che để đi đến kết luận lác một mắt hay lác luân phiên. Căn cứ vào hướng động tác trả mà xác định hình thái lác:

  •  Hướng động tác trả từ trong ra là lác trong, từ ngoài vào là lác ngoài, trên xuống, dưới lên là lác đứng, trả chéo là lác chéo (kết hợp ngang và đứng). 
  • Tốc độ động tác trả nhanh, chậm nói lên tình trạng thị lực của mắt lác. Nếu không xuất hiện động tác trả ở mắt lác là mắt ấy nhược thị rất nặng hoặc mù.
  • Biên độ động tác trả nói lên độ lác cao hay thấp. Trả ít, nhẹ là độ lác thấp, trả mạnh và nhiều là độ lác cao. 

b) Chẩn đoán độ lác. 

– Nghiệm pháp Hirschberg: Chiếu ánh sáng đèn soi đáy mắt hay đèn pin vào sống mũi bệnh nhân thì có ánh phản quang trên giác mạc.

  • Ở mắt lành ánh phản quang ở trung tâm giác mạc còn bên mắt lác ánh phản quang ở cách trung tâm giác mạc về phía thái dương hoặc phía mũi. 
  • Cứ cách xa trung tâm giác mạc 1mm ≈ 80 lác, thường người ta tính ở bờ đồng tử là lác 150, ở rìa giác mạc là 450.
  • Quy định lác trong ghi (+), lác ngoài ghi (-) ở trước độ lác. 
  • Ngoài ra độ lác có thể còn được đo bằng thị trường kế Landolt, bằng thước đo độ lác Strabometer, máy synoptophore, bằng lăng kính

Khám vận động nhãn cầu: 

– Cho bệnh nhân liếc tối đa 4 hướng chính, 4 hướng phụ để đánh giá sức hoạt động các cơ vận nhãn.

Đánh giá thị lực phát hiện nhược thị ở mắt lác: 

– Đo thị lực không kính và có kính cho từng mắt một. Ở trẻ em nên dùng bảng Snellen chữ E (dễ nhận thức hơn bảng Landolt vòng tròn hở).

– Phát hiện nhược thị ở mắt lác: Nhược thị trong lác cơ năng là nhược thị không phải do tổn thương thực thể gây ra (vì vậy phải khám kỹ giác mạc, thể thủy tinh, dịch kính, võng mạc…). 

– Chẩn đoán là nhược thị khi thị lực ở mắt lác thấp hơn ở bên mắt lành từ 3/10 trở lên. Nhược thị được chia ra làm 3 mức:

  • Nhược thị nhẹ thị lực từ 5/10 – 7/10. 
  • Nhược thị trung bình từ 2/10 – 4/10. 
  • Nhược thị nặng thị lực ≤ 1/10. 

Khám toàn thân, các cơ quan khác: 

Khám tuần hoàn, hô hấp, thần kinh, tiêu hóa, tiết niệu- sinh dục,…

Xét nghiệm 

  • Xét nghiệm máu: Kiểm tra đường huyết, mỡ máu , hormon tuyến giáp,…: kiểm tra có bệnh lý kèm theo, cũng như những yếu tố có thể gây lên bệnh 
  • Siêu âm tuyến giáp: khi nghi ngờ bệnh nhân có dấu hiệu về bệnh lý tuyến giáp 
  • Chọc dò tủy sống: để tìm nguyên nhân gây viêm, chảy máu trong não, nhiễm trùng,…

Chụp CT hoặc MRI sọ não: hốc mắt để loại trừ khối u chèn ép hốc mắt, sọ não , những bất thường tại não gây tăng áp lực nội sọ hoặc liệt dây thần kinh vận nhãn

Điều trị mắt lác

Mắt lác nếu điều trị kịp thời sẽ làm giảm nguy cơ biến chứng, chẳng hạn như nhược thị hoặc mắt lười. Bệnh nhân càng trẻ thì khả năng điều trị càng hiệu quả. Điều trị lác có thể bao gồm việc tập luyện, liệu pháp thị lực hoặc phẫu thuật cơ mắt. Mắt lác nếu được phát hiện và điều trị sớm thường cho kết quả tuyệt vời.

Các phương pháp điều trị mắt lác 

Hiện tại có 2 phương pháp điều trị mắt lác là Đông y và Tây y . Xong đối với cả 2 phương pháp để điều trị đạt được hiệu quả cần ưu tiên điều trị ổn định  các nguyên nhân cấp tính như: Đột quỵ, u, u thư nội sọ, phình động mạch chủ , viêm màng não, xoang hang, …

Việc điều trị lác cần được tiến hành sớm, trước tuổi đi học thì mới hy vọng phục hồi cả được thị giác 2 mắt và thẩm mỹ. Nếu để quá muộn thì chỉ có thể đạt được yêu cầu thẩm mỹ.

Điều trị bằng Tây y: 

Sau khi loại bỏ được các yếu tố nguy hiểm gây lác thì điều trị mắt lác gồm 3 giai đoạn: (1) Điều chỉnh bằng kính, (2) điều trị nhược thị và (3) phẫu thuật để phục hồi sự cân bằng 2 mắt. 

Chỉnh kính. 

  •  Chỉnh kính là một khâu quan trọng trong điều trị lác, đặc biệt là đối với lác do điều tiết thuần tuý như: cận thị, viễn thị, loạn thị . Điều chỉnh kính làm cho ảnh rõ nét và tạo thuận lợi cho việc phối hợp thị giác 2 mắt.

Điều trị nhược thị 

  • Nhược thị do lác mắt có thể hồi phục tốt nếu được phát hiện và điều trị sớm, đặc biệt trẻ trẻ nhỏ từ 1-3 tuổi 
  • Khi phát hiện mắt lác bị nhược thị bệnh nhân có thể điều trị theo các hướng như: bịt mắt bên lành, đeo kính hoặc nhỏ atropin 0,1% 

Điều trị bằng botulinum toxin: 

là một loại độc tố tiêm vào cơ ngoại bì để làm yếu liệt cơ, lợi dụng tính chất này với 1 liều nhất định botulinum được dùng để điều chỉnh cơ vận nhãn tạo lại sự cân bằng cho mắt 

Điều trị phẫu thuật. 

  • Phẫu thuật mắt lác sau khi điều trị chỉnh kính và nhược thị . Hầu hết phẫu thuật mắt lác rất nhanh 30-45 phút và bệnh nhân có thể về trong ngày

Điều trị bằng Đông y 

Mắt lác Đông y gọi là “ mục thiên thị “ hoặc “ Tà thị “ . Y học cổ truyền cho rằng luân xa là đích, tạng là gốc, các bệnh về luân xa phần lớn là do tạng phủ bị rối loạn. Các tổn thương của các phủ tạng tương ứng có thể cho thấy một số đặc điểm nhất định trong mắt, có thể được dùng làm tham chiếu để chẩn đoán. Nếu tâm nóng, sẽ phản chiếu vào lòng đỏ, mắt lú do thận khí thiếu hụt. Các hoạt động của các cơ quan nội tạng có thể được phản ánh qua sự thay đổi của đôi mắt, không phụ thuộc vào sinh lý, bệnh lý, v.v. Năm vòng tương ứng với ngũ tạng, mắt có vấn đề chứng tỏ ngũ tạng tương ứng cũng có vấn đề tương ứng

Theo y học cổ truyền nguyên nhân gây mắt lác gồm có: 

  • Tiên thiên bất túc, nguyên dương suy nhược, không ôn ấm được tỳ thổ. Cơ nhục ở  mắt không được nuôi dưỡng sinh ra bệnh.
  • Hậu thiên kém dinh dưỡng, Tỳ Vị bất hòa, khí huyết sinh hóa bị bất túc. Cơ nhục ở mắt không được nuôi dưỡng sinh ra bệnh.
  • Tấu lý không kín, ngoại tà xâm nhập vào lạc mạch ở mắt làm cho khí huyết bị ủng trệ
  • Do huyết ứ, xảy ra sau tai nạn, va chạm

Hiện nay Đông y phát triển tiến bộ với nhiều ưu điểm mới từ chất lượng dược liệu đến tay nghề bác sĩ được đào tạo chuyên sâu, đã làm lên một trang lịch sử mới cho thế hệ Đông y phát triển ngày vững mạnh, có chỗ đứng trong ngành y khoa trong nước và quốc tế  . Chính vì thế điều trị mắt lác bằng Đông y có hiệu quả rất cao: 

  • Điều trị mắt lác từ bên trong, từ gốc bệnh : Thuốc y học cổ truyền làm hồi phục, làm khỏe các nhóm cơ vận nhãn bị yếu, phân bố các sợi cơ không đều, đưa nhãn cầu về vị trí bình thường cử động linh hoạt đồng thời khắc phục được biến chứng như lác,  song thị. Trong quá trình điều trị có thể phải kết hợp châm cứu đối với những bệnh nhân liệt dây thần kinh số III, IV, VI do tai nạn, va đập. Một số  trường hợp lác do bệnh lý gây nên thì dùng thuốc y học cổ truyền để phục hồi dây thần kinh
  • Hồi phục mắt về vị trí bình thường sau  khi phẫu thuật mổ mắt lác, cận, viễn,… thất bại
  • Không gây ra các biến chứng viêm, nhiễm trùng, chảy máu, thủng, áp xe kết mạc do thuốc đông y làm tăng sức cơ của mắt, tăng dẫn truyền thần kinh
  • Cải thiện được thị lực
  • Thời gian :Tiện lợi bệnh nhân sử dụng thuốc tại nhà, giảm chi phí và thời gian đi lại
  • Rất nhiều bệnh nhân hồi phục sau khi điều trị bằng phương pháp Đông y

Tổng kết 

  • Mắt lác cần được chẩn đoán chính xác, đặc biệt đối với trẻ dưới 4 tháng tuổi vì lúc này phản xạ mắt của trẻ còn kém chưa hoàn thiện .Khám lác ở trẻ trên 6 tháng tuổi để chắc chắn với chẩn đoán 
  • Mắt lác là một bệnh có thể chữa được 
  • Việc điều trị mắt lác cần tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị của bác sĩ
Chia sẻ bài viết lên:

Viết một bình luận