Mắt lác sau tai nạn

5/5 - (1 bình chọn)

Mắt lác sau tai nạn như thế nào? 

Chấn thương sọ não  là một nguyên nhân phổ biến gây mắt lác do liệt dây thần kinh vận nhãn. Khi bị chấn thương các dây thần kinh mắt bị liệt hoàn toàn, người bệnh sẽ ngay lập tức bị tê liệt, giãn đồng tử, mất phản xạ ánh sáng, nhãn cầu hơi lệch xuống dưới và lên trên, xuống dưới, hướng vào trong và mất chức năng vận động. Ở thể liệt một phần, tình trạng sụp mi trên và giãn đồng tử nhẹ, nhưng bệnh nhân thường nhìn đôi, nhìn rõ bên lành, có thể giảm hoặc mất hẳn khi nhìn bên bị. Tổn thương não giữa được đặc trưng bởi liệt dây thần kinh vận động cơ bên bị bệnh, hầu như không liên quan đến đồng tử, nhưng có thể có song thị hoặc lác, mất điều hòa tiểu não của chi bên, giảm trương lực cơ

Có 6 cơ của mắt giúp điều chỉnh hoạt động của nhãn cầu, nằm ở bên ngoài của mỗi mắt. Mỗi mắt có một cơ giúp nhãn cầu di chuyển về bên phải, và một cơ di chuyển nhãn cầu về bên trái. Bốn cơ còn lại di chuyển mắt lên hoặc xuống và xoay nhãn cầu. 

Tương ứng với các cơ vận nhãn trên là 3 dây thần kinh vận nhãn chi phối hoạt động  của các cơ 

  • Dây thần kinh số III: chi phối cơ thẳng trong, thẳng trên, có chéo bé, cơ nâng mi. Khi liệt dây thần kinh số III gây mắt lác ngoài, lác đứng dưới, sụp mi 
  • Dây thần kinh số IV: chi phối cơ chéo lớn, gây lác đứng trên 
  • Dây thần kinh số VI: chi phối cơ thẳng ngoài , gây lác trong 

Khi tổn thương bất kì một dây thần kinh hay một cơ vận nhãn trên đều có khả năng gây mắt lác 

Mức độ tổn thương của mắt lác do tai nạn phụ thuộc vào vị trí, mức độ tổn thương của dây thần kinh vận nhãn 

Triệu chứng thường gặp của mắt sau tai nạn có thể gặp 

a.Thay đổi vị trí của mắt

Mắt lác: là hiện tượng mắt hướng về các hướng khác nhau. Một hoặc hai mắt có thể quay vào trong, ra ngoài, lên trên hoặc xuống dưới trong khi mắt kia nhìn về phía trước. Trẻ có thể nghiêng hoặc quay đầu để cố gắng kẻ mắt vì mắt không thể tự điều chỉnh vị trí. Mắt lác có thể do liệt thần kinh vận nhãn III, IV, VI hoặc liệt cơ vận nhãn . 

Nhìn đôi – Song thị là do sự mất cân bằng chuyển động của cơ mắt làm bệnh nhân nhìn thấy hai hình ảnh từ mắt. Trẻ có thể nhắm hoặc che một bên mắt để nhìn thứ gì đó hoặc gặp khó khăn trong việc cân bằng hoặc đánh giá độ sâu. Nhìn đôi gây cho người bệnh:

  • Khó giữ được thăng bằng khi đi lại
  • Chóng mặt
  • Đi lại khó khăn 
  • Khó đọc
  • Khó thực hiện cuộc sống hàng ngày

b. Chuyển động của mắt

Rung giật nhãn cầu: là hiện tượng nhãn cầu vận động dao động lặp lại của nhãn cầu.

Giãn đồng tử: thường gặp trong liệt dây thần kinh số III

Giật mắt: Hiện tượng co thắt lặp đi lặp lại không tự chủ của cơ co mí mắt

Phản xạ mắt chậm 

c. Khuyết thị trường ở mắt

Khiếm khuyết thị trường giác mạc là do sự gián đoạn của các đường dẫn thị giác trong não. Kết quả là mất thị lực ở một nửa trường thị giác ở mỗi mắt. Ở trẻ, trẻ có thể không chú ý đến hoặc không biết  

d. Thị lực kém 

Thị lực kém là khi bạn không thể nhìn rõ. Điều này được kiểm tra bằng cách sử dụng biểu đồ mắt với các chữ cái hoặc hình ảnh.

Chẩn đoán và xét nghiệm 

Bệnh nhân có tiền sử tai nạn chấn thương, va đập

Khám mắt, toàn thân để loại trừ bất kỳ bệnh lý kèm theo cũng như bệnh lý góp phần gây ra bệnh lác

Kiểm tra thị lực, giãn đồng tử và sử dụng thiết bị đặc biệt để nhìn vào bên trong mắt khi khám 

Tùy vào loại chấn thương thì bác sĩ sẽ có thêm các chỉ định: 

  • X-quang 
  • Chụp CT hoặc MRI
  • Các xét nghiệm máu, sinh hóa cơ bản 

Điều trị mắt lác sau tai nạn 

a. Đông y :

Bản chất của mắt lác sau tai nạn là do liệt dây thần kinh vận nhãn hoặc liệt cơ vận nhãn. Cho nên khi điều trị bằng đông y vừa thông kinh lạc, thông khí huyết tăng sức cơ, hồi phục dây thần kinh bị tổn thương 

Triệu chứng: Sau chấn thương, nhãn cầu bị lệch, hoặc tê bì mặt hai bên, cảm giác đờ đẫn, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch hoạt sáp

Biện chứng: Sau chấn thương, cơ và tĩnh mạch bị tổn thương, khí huyết ứ trệ nên thấy các triệu chứng nêu trên

Pháp: hoạt huyết hóa ứ thông lạc. 

Phương thuốc: Đào hồng tứ vật thang “trích Y tông kim giáng “ hợp Chính vinh thang “ Thẩm thị giao hàng: 

Đào nhân: 10g, Hồng hoa: 10g, Đương quy: 15g, Xuyên khung: 12g, Xích thược: 12g, Sinh địa: 10g, Khương hoạt: 12g, Bạch phụ tử: 6g, Phòng phong: 6g, Tần giao: 12g, Đởm nam tinh: 12g, Cương tằm: 6g, Bán hạ chế: 12g, Mộc qua: 12g, Tùng tiết: 10g.

Phân tích bài thuốc: 

Đương quy bổ chung cả Tỳ, Tâm và Can, vì tân, ôn khổ và cam, dùng làm quân. Quy là vị chủ yếu trong loại thuốc chữa huyết. Vì tính và vị của Quy là tân, khổ, cam, ôn nên có tác dụng sinh huyết, hòa huyết, làm mấu chốt cho cơ năng nhiếp huyết

Sinh địa có khí vị cam hàn, vào Tâm, Thận thấm nhuần cho huyết, có làm thân. Nó có tác dụng thông Thận, vào Tâm kinh, là vị cần thiết, quan trọng trong loại thuốc chữa về huyết. Nhờ khí vị cam hàn mà làm khỏi chứng đau ở rốn, bổ âm, mát huyết, dội vào nguồn của huyết, có thể sinh được chân âm sau khi bị hư. Có thuyết nói: thủy là nguồn của huyết, nên lấy nó làm quân.

Bạch thược là vị thuốc thông vào phần âm của các kinh Tâm, Can, Tỳ. Nhờ tính vị toàn hàn mà Thược có tác dụng “hoãn trung”, phá huyết khỏi đau bụng bổ tỳ âm, liễm can huyết, điều hòa huyết ở mọi nơi, chữa huyết hư

Xuyên khung có khí vị tân, ôn, thông suốt trên dưới, để vận hành phần khí trong huyết, dùng làm sứ, dẫn vào kinh quyết âm Tâm bào và kinh Can. Trên thời lên tới đầu và mắt, dưới thời xuống tới huyết hải. Nó là một vị khí dược ở trong huyết. Có tác dụng cổ vũ các loại âm dược dẫn trở lên. Nhờ khí vị phân tán

Đào nhân có vị đắng, ngọt, tính bình, quy vào các kinh tâm, can, có tác dụng phá huyết, hành ứ

Hồng hoa vị cay ngọt đắng tính ấm có công năng hoạt ứ huyết, sinh huyết mới , phần nhiều là phá huyết hành ứ

Thêm các vị thuốc  trừ phong hàn .Phòng phong khu phong giải biểu . Khương hoạt tán hàn khu phong . Đởm nam tinh, cương tằm hóa đờm nhiệt, cản kinh phong. Mộc qua trừ đàm thấp, tiêu viêm. Tùng tiết hoạt huyết hành khí 

Chống chỉ định: đối với phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, không dùng cho trẻ dưới 15 tuổi  một số bệnh nhân Đái tháo đường 

Châm cứu: châm tả: huyết hải, túc tam lý, hợp cốc đối diện,dương bạch, đồng tử liêu, ngư yêu, tình minh, tứ bạch, cầu hậu, thừa khấp

Phân tích châm cứu: Châm tả huyết hải để hóa ứ hoạt huyết, Túc tam lý thông kinh hoạt lạc , hợp cốc là chuyển chủ vùng đầu mặt . Dương bạch, đồng tử liêu, ngư yêu, tình minh, tứ bạch, cầu hậu, thừa khấp là các huyệt quanh vùng mắt tăng sức co của cơ vùng mắt.

b. Tây y: 

Phẫu thuật là phương pháp duy nhất để điều trị mắt lác đối với các bệnh nhân bị chấn thương 

Bệnh nhân có thể phương pháp phẫu thuật:

Lùi cơ: là đưa chỗ bám cơ lùi về phía sau nhằm thu ngắn đoạn cung tiếp xúc của cơ với nhãn cầu làm cơ co lại và yếu đi, làm cho nhãn cầu trở về phía đối lập. Nguyên tắc là càng lùi nhiều nhãn cầu càng trả nhiều, độ lác càng giảm. Tuy vậy chỉ được lùi tối đa bằng chiều dài cung tiếp xúc. Vì nếu lùi càng quá mức xa thì cơ càng mất tác dụng làm xoay nhãn cầu mà chỉ còn tác dụng kéo tụt nhãn cầu ra sau.

Cắt buông cơ: Cắt đứt cơ mà không cần khâu lại thường dùng cho cơ chéo bé.

Rút cơ.

Gấp cơ: Có thể gấp một đoạn cơ hoặc gân cơ để tăng cường tác dụng (thường gấp cơ chéo lớn).

Khâu cơ ra trước: Khâu chỗ bám cơ ra trước, thường dùng để tăng cường tác dụng của một cơ trước bó đã được lùi.

Di thực cơ vận nhãn lân cận để thay thế động tác của cơ bị liệt.

Chia sẻ bài viết lên:

Viết một bình luận